Một Người Lính Trẻ

Tất cả những người lính đều thuộc về một người nào đó, họ đều có cha mẹ, vợ con, hoặc một người nào đó yêu thương họ.

            Hồi mới lớn tôi ước ao sẽ trở thành một bác sĩ, nhưng vì hoàn cảnh nghèo túng, thế nên tôi chỉ đành học làm y tá. Vào năm 1966, lúc đó tôi đang học năm cuối cùng, có một cuộc  tuyển lựa của trường quân y. Họ đã tới  trường nói chuyện với chúng tôi, lời thuyết trình nghe thật mời gọi: Tôi có cơ hội được đi du lịch, tất cả chi phí đều được đài thọ, điều quan trọng nhất là, họ bảo đảm tôi sẽ không phải qua bên Việt Nam nếu tôi không muốn. Điều đó thật sự là tôi không muốn.
Thế là tôi đăng ký. Sau lớp huấn luyện căn bản tôi được gửi tới bệnh viện Letterman ở Presidio bên  San Francisco. Trong hai năm làm việc tại  bệnh viện Letterman tôi nhận được lệnh qua công tác bên Việt Nam tới 3 lần. Hai lần trước tôi đều từ chối. Nhưng tới lần thứ 3 tôi nghĩ rằng, với hai năm kinh nghiệm tôi đã có thể là một người rất hữu dụng khi qua Việt Nam.
Chúng tôi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, khi cánh cưả máy bay vừa mở ra, tôi muốn té nhào bởi cái không khí nóng nảy. Đột nhiên tôi cảm thấy hai năm kinh nghiệm của mình không còn quan trọng nữa. Ở tuổi 23 tôi cảm thấy mình còn quá trẻ. Tôi cảm thấy sợ hãi, nhưng biết không thể nào trở lui lại được nữa.
Sau vài thủ tục, tôi được tuyển tới bệnh viện quân y số 67 ở Quy Nhơn. Khi chiếc máy bay trực thăng đáp xuống khu  bệnh viện, họ bỏ tất cả đồ đạc của tôi xuống đất. Tôi bước xuống khỏi máy bay, vuốt lại chiếc váy đầm cho thẳng. Người lính trong phòng lái gọi lớn tiếng, “Chúc Đại Uý may mắn.” rồi cất cánh bay đi.
Lúc đó  trên người tôi đang mặc bộ đồng phục hạng A, có nghiã là tôi đang mang vớ da và đôi giầy cao gót. Không có gì lố bịch hơn tôi trong quang cảnh trước mắt. Với hàng rào kẽm gai chạy dài nhiều cây số, cộng thêm những hàng rào bằng thép chạy vòng quanh khu bệnh viện  và một sân bay thật rộng gần đó với những nền si măng nóng, rộng tới mấy mẫu. Tôi đứng thẳng và bước nhanh tới cánh cửa hung hãn mầu xám tro cuả cái building trước mặt. Tôi đã được dặn dò là phải đi ngủ sớm vì sáng mai tôi sẽ bắt đầu làm việc. Tôi sung sướng ngả mình xuống chiếc giường, sáng hôm sau mặc trên người bộ đồng phục của bệnh viện và đôi giầy bốt như một quân nhân.          
Vì mang cấp bậc một Đại Úy nên tôi là y tá trưởng của khoa chỉnh hình,  thuộc về nơi có những quân nhân bị thương nặng và cần phải giải phẫu như cưa cắt. Tôi thi hành nhiệm vụ thật nghiêm chỉnh và bị cho là một người  thật khắt khe.
Tuy đã là một y tá có kinh nghiệm hai năm làm việc trong bệnh viện bên Mỹ, thế mà tôi vẫn không thể chuẩn bị tinh thần cho những sự kiện xảy ra bên Việt Nam. Tôi đã chứng kiến rất nhiều cảnh đau đớn và chết chóc cuả các quân nhân. Một trong những điều luật làm việc của tôi là không ai có thể để  cho mình nhỏ một giọt nước mắt. Những người bị thương và những người sắp chết họ rất cần đến sự cứng rắn của chúng tôi. Tôi nói với các người y tá rằng, chúng ta không thể cho phép mình có những cảm giác ủy mỵ xa hoa.
Mặt khác tôi luôn luôn rất thẳng thắn với các quân nhân. Tôi không bao giờ nói với họ rằng, “Ôi, đừng có lo, anh không sao đâu,” nếu như tôi biết họ sẽ không thoát được huy hiểm tôi cũng sẽ không dối họ.
Thế nhưng tôi nhớ có một lần, tôi đã phải nói dối một người lính trẻ, cậu ta chỉ vào khoảng 18 tuổi và bị thương rất nặng, khi cậu vừa được chuyển tới tôi đã biết không có cách gì thể cứu nổi cậu. Cậu không la hét hay than thở gì cả, mặc dầu tôi biết cậu đang rất đau đớn.
Khi cậu hỏi tôi: “Tôi sẽ chết phải không?”
Tôi hỏi lại: “Cậu có cảm tưởng là mình sẽ chết hay không?”
Cậu ta trả lời: “Có, tôi có cảm giác là mình sẽ chết.”
Tôi hỏi: “Cậu có cầu nguyện không?”
Cậu ta trả lời: “Có, tôi biết rồi,” và cậu bắt đầu cầu nguyện…
Tôi nói: “Tốt, như vậy rất là tốt.”
Khi đó cậu hỏi nếu tôi có thể cho cậu nắm tay tôi không, đột nhiên tôi nảy ra một ý định, tôi nghĩ cậu lính trẻ này cần được nhiều ân huệ hơn là chỉ  được nắm tay. Tôi nói: “Tôi có thể làm khá  hơn thế nữa,”
Tôi biết tôi sẽ bị những người y tá và những người đồng nghiệp khác ném cho những cái nhìn khinh mạt cũng như sẽ bị nhạo báng bởi các bệnh nhân khác, nhưng tôi bất chấp, chẳng cần nhìn chung quanh, tôi leo lên giường và nằm xuống vòng tay ôm lấy cậu ta, còn tay kia tôi vuốt lên tóc lên trán cậu trong lúc cậu xích lại gần thêm. Tôi hôn lên má cậu, và chúng tôi cùng nhau đọc lời cầu nguyện, “Lạy Chuá khi con đặt mình con đi vào giấc ngủ, con xin Chúa hãy canh phòng hồn xác con, nếu như sáng mai đây con không còn thức giấc, thì xin Chuá hãy cất giữ lấy hồn con.” Sau đó cậu ta đưa mắt qua nhìn tôi và nói thêm một lời cuối, “Con thương mẹ lắm, mẹ ơi, con thương mẹ lắm,” trước khi cậu gục chết trong vòng tay của tôi, êm ả và bình an như cậu chỉ đi vào giấc ngủ.
Một phút sau đó, tôi bước xuống khỏi giường và nhìn chung quanh, tôi chắc chắn vẻ mặt tôi lúc đó thật khó coi, như thách thức không cho ai có thể làm phiền tới tôi. Thế nhưng tôi không cần lo lắng,vì tất cả mọi người y tá và những đồng nghiệp đều đã phá luật và đang thổn thức khóc thương trong im lặng, có người nước mắt đầy trên mi, và cũng có người để cho nước mắt lăn dài xuống trên má.
Tôi nghĩ đến bà mẹ của người lính trẻ này, Bà sẽ nhận được bức điện tín báo tin cho bà biết rằng, con bà đã “chết trận” và chỉ có thế. Tôi nghĩ rằng bà sẽ mãi thắc mắc không biết chuyện xảy ra như thế nào? Con bà chết giưã chiến trường?  Ngoài đồng? Có ai bên cạnh con bà lúc sự việc xảy ra? Con bà phải chịu đựng đau đớn trong bao lâu? Nếu như tôi là bà tôi cũng muốn được biết.
Sau đó tôi ngồi xuống bàn và viết cho bà một lá thư. Tôi nghĩ rằng bà rất muốn biết trong giây phút cuối cùng, con trai bà đã nghĩ đến bà. Và điều cần thiết nhất tôi muốn cho bà biết rằng con bà  đã không bị cô đơn trước khi nhắm mắt lià đời.

Ngọc-Trân phỏng dịch

 

 
  • home