ĐẠi hỌC cHIẾN tRANH cHÍNH tRỊ
Blue World Blue World

Người Việt Nam Tóc Vàng

            Đó là một buổi sáng rất đẹp. Những người Mỹ không thể nào hiểu nổi làm sao ở Việt Nam vào thời buổi chiến tranh lại có thể có được một buổi sáng đẹp. Thế nhưng sự thật là thế. Tỉnh Kiến Phong, thật ra thì mọi người đều biết đến qua cái tên truyền  thống là Cao Lãnh, lúc đó chiến tranh đã lắng dịu. Mấy năm sau này, khi tôi trở lại Mỹ rồi tôi mới được biết rằng Cao Lãnh trước đây đã từng là một vùng xôi thịt. Sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, bộ mặt thật của bọn Việt Cộng đã bị lật trần. Chúng đã bị mất hàng ngũ và bị mất lòng tin của dân chúng điạ phương, sau khi họ đã nhận ra được bọn chúng chính là quân bịp bợm phi lý, là những người đã lường gạt họ bằng những hưá hẹn chết chóc, ươn hèn.
Hơn nữa lúc đó chính phủ miền Nam đã ra chương trình cải cách ruộng vườn, đã cấp dưỡng cho dân chúng trong tỉnh hơn 2,500,000 mẫu ruộng luá, cho khoảng chừng 800,000 gia đình nông dân đang trong cảnh sống vô cùng nghèo khó, túng thiếu. Bây giờ họ đã có ruộng vườn riêng, thế nên họ đã hiểu biết hơn và cũng chính vì thế mà hàng ngũ của Việt Cộng cũng từ đó mà bị suy xụp.
Vì vậy  mục đích chuyến đi của ngày hôm đó là để kiểm soát về công việc súc tiến của chương trình cải cách trong khu vực mà lâu quá tôi đã quên mất tên,  trong lúc chúng tôi đang tiến vào trong tỉnh, khoảng nửa đường bên dòng sông Mekong. Ông Tom O’Dell là một vị đại diện tỉnh của USAID hỏi tôi có muốn đi theo ông không , mặc dù đó không phải là công tác của tôi, nhưng tôi cũng vui vẻ nhận lời. Lúc đó tôi đã ở Việt Nam được 3 năm, tôi đã được học tiếng Việt và đã đạt được chứng chỉ của trương trình Việt ngữ, đã nói được lưu loát và tiếp súc cũng như làm việc với người Việt Nam hàng ngày, bởi thế tôi cảm thấy có lòng tôn trọng đối với những người Việt trong giới bình dân. Nếu như không phải vì những bài báo ngu ngốc tinh quái, bất công của những người ký giả dốt nát thì nơi đây đúng là một nơi giải trí đáng được hoan nghinh.
Chúng tôi đi như một đoàn Hướng Đạo Quốc Tế cuả USAID, trồi xụp trên xa lộ sỏi đá của tỉnh với đầy những vết xe, những ổ gà, bỏ lại sau lưng thủ đô và dân số của nó lúc đó  có lẽ vào khoảng 5,000 người. Trên nhiều phương diện Việt Nam chỉ cách nhau khoảng một nửa vòng trái đất, thế mà như trở lại 300 năm về trước. Không có những dây điện chạy dọc theo những con đường lộ, hoặc không có những hiện tượng gì gọi là của thế kỷ 20. Vấn đề lưu thông rất hạn chế, chỉ thấy những chiếc xe Honda, xe gắn máy hay là những  chiếc xe đò thị trấn xập xệ, chật ních những người và vật như gà, vịt. Chúng tôi đi qua những thôn xóm nhỏ bé bao gồm cả những cái chòi, những túp lều lợp bằng rạ và chỉ có thế, nói chi đến phố phường, cảnh tượng như 300 năm trước đó vậy. Trung bình những người Mỹ có lẽ họ sẽ hết hồn hết vía với cảnh tượng của chuyến đi này, không có quân đội, không cả vũ khí mang theo để bảo vệ qua chặng đường giữa đồng bằng Mê kông, nhưng không có gì đe doạ, không có cảnh tượng đánh nhau cũng không có vấn đề khủng bố lẻ tẻ gì cả, thế nên chúng tôi đã có thể thưởng thức được cảnh đẹp của một thôn quê êm đềm. Điểm nổi bật của Việt Nam có thể nói là có lẽ có tới 485 mầu xanh khác nhau  cuả cỏ cây, khác hẳn với Định Tường cách đó khoảng 30 dặm anh, đã nhuộm đầy mầu máu đỏ, nhưng Cao lãnh không như thế, thật ra tôi thấy như mình đang lái xe ngang qua tiểu bang Iowa vậy, mặc dù con đường có khá hơn, nước bùn bắn tung toé trên kính xe trong lúc người chúng tôi nhún nhảy qua những ổ gà, chúng tôi như bị thôi miên bởi ngũ sắc xanh biếc của những cánh đồng lúa, những hàng cây và một lâu đài có lẽ là vết tích để lại từ hồi Pháp thuộc, bây giờ đã bị bỏ hoang giữa những lùm cây nơi hoang giã này.
Khoảng nửa giờ sau chúng tôi dừng lại một thôn làng toạ lạc bên một con lộ xấu xí, cái thôn làng không có đèn điện, không viả hè, không có phương diện hay quang cảnh của thế kỷ 20 gì hết. Người dân ở đây theo như hiểu biết cuả tập tục, không mặc gì ngòai những bộ áo quần “pajamas” mầu đen, và hầu hết là đi chân đất, với quần áo may bằng vải thô giản dị, và đang bận bịu với công việc thường xuyên trong thôn xóm, những người đàn bà cũng đang bận bịu quanh những túp lều lợp rạ của họ, có những bà đang ngồi chồm hổm nấu ăn, trong lúc những người đàn ông chuyện trò với ông Tom. Trong khi đó, trái ngược với tri giác thông thường là có một đơn vị Mỹ tới vùng miền quê này, rất ít có lực lượng nào lại đi sâu vào trong tỉnh như thế. Thế nên lần đầu tiên giữa Định Tường và Kiến Tường hầu hết trẻ em chưa bao giờ nhìn thấy những người Mỹ, các em tụ tập lại thành những đám nhỏ, ngây thơ, thì thầm, thắc mắc không biết đám người hành tinh với mầu da trắng và mái tóc vàng này tới đây làm gì. Trong lúc Tom chia ra từng nhóm để thanh tra những đồng luá, tôi đi theo và tránh không làm phiền đến công việc của họ. Khởi đầu chúng tôi đi dọc theo con đường đất cứng là con đường chính dẫn qua thôn xóm, các trẻ em đi theo chúng tôi, có những em bé trai khoảng 2-3 tuổi, trần truồng như nhộng, trong khi các em bé gái thì mặc những chiếc quần soọc may bằng vải cô tông, có những em bé gái khoảng chừng 7-10 tuổi đi chân trần, đang bồng những đưá em bên sườn thay cho những con búp bê, trong chiếc quần đen và những chiếc áo hoa cũng bằng vải cô tông, tất cả những cặp mắt đều hướng về chúng tôi.
Trong lúc chúng tôi đi qua con đường làng dẫn tới những ruộng lúa, đám trẻ em đi theo, chúng thì thầm, chỉ chỏ những “Người Mỹ” không nghi ngờ gì là họ sẽ có thể hiểu được, các em nói:
Trời đất ơi!! Có người Mỹ kià”
            “Thiệt hả? Ở đâu?”
            “Ở đó. Đó!! Thấy Không?”
Giọng nói có vẻ khôi hài và càng lúc càng lớn chứng tỏ  các em càng lúc càng đông hơn, thỉnh thoảng tôi quay lại nhìn các em để thấy các em dừng lại,vội vàng đưa tay lên che miệng, với ánh mắt mở lớn như thoáng vẻ ngạc nhiên, thắc mắc không hiểu tại sao khi không lại có người  Mỹ tự nhiên lại quay lại nhìn mình như thế. Ở điểm này tôi cần phải nói là, đối với đất nước này, đáng tiếc, có ít, rất ít người Mỹ học được tiếng Việt cho thông thạo, và toàn thể đều cho rằng, những người Mỹ không thể hiểu được bất cứ điều gì nói về họ, cũng giống như nói với những con trâu, con vịt vậy.
Tiếp tục như một đám rước như thế cho tới khoảng chừng 20 mét hoặc hơn, chúng tôi đã tới những ruộng lúa. Tiếng trẻ em lớn dần và đông hơn. Tôi dừng bước, quay mặt lại nhìn đám trẻ. Chúng cũng dừng lại ngước nhìn với ánh mắt ngây ngô thắc mắc.  Tôi nghĩ, đã tới lúc nên có dịp vui, tôi  triệu tập tất cả những vẻ hề trên khuôn mặt mà tôi có thể  tập trung được và làm ra vẻ ngạc nhiên tôi hỏi: “Có người Mỹ hả? Ở đâu? Cho tôi coi với nhe? Tôi muốn coi.” Đám trẻ đứng ngớ ra, như vừa  nhìn thấy được một cái cây biết nói, hay như  trông thấy một con trâu vưà đi được bằng hai chân vậy…hoặc cả hai.  Điều đó chứng tỏ chúng không thể tưởng tượng nổi. Tôi thử lại một lần nữa: “ Tôi chưa bao giờ thấy một người Mỹ nào. Tôi muốn coi. Xin vui lòng cho tôi coi nhé?”  Những người đàn bà gần đó, người thì đang quét dọn trước mái tranh, kẻ thì đang ngồi chồm hổm rửa rau, họ cũng ngừng tay nhìn lên với vẻ lạ lùng, và bắt đầu tủm tỉm cười thầm, có những người thò đầu qua cửa sổ ra chiều thắc mắc.
Đám trẻ em đứng im như trời trồng, miệng há ra ngạc nhiên lẫn nghi ngờ, đây mới chính là hình ảnh đẹp tuyệt vời và kỳ thú, chỉ có những nét ngây thơ cũa trẻ em mới có thể có được. Cuối cùng thì có một bé trai khoảng chừng 8 hay 9 tuổi phá tan sự im lặng , em ngước lên nhìn tôi hơi thoáng rụt rè, em nói: “Ông. Ông là người Mỹ.” Tôi xoay người, làm bộ như em đang nói chuyện với người sau lưng của tôi, rồi tôi quay trở lại nhìn em và hỏi lại: “Ông Mỹ đâu? Tôi Không thấy.” với kiểu cách  cố tình thêu dệt. Tiếng cười như oà vỡ, những tiếng nói trổi lên như một khúc nhạc: “Ông, ông. Ông đây là người Mỹ đó”. Nụ cười nở trên môi những em lớn tuổi hơn, vì lúc này các em đã nhận ra đây là một trò chơi. Tôi nói: “Không, không, tôi là người Việt Nam mà.” lại thêm những nụ cười, thêm những tiếng hài hước nghịch ngợm.” Ông không phải là người Việt.. ông là người Mỹ!!!” Tôi đã chuẩn bị sẵn : “Nếu như tôi là người Mỹ taị sao tôi nói tiếng của người Việt Nam?” Ngừng một giây tôi lại nói thêm để chứng tỏ nguồn gốc của mình, “Tôi ăn cơm bằng đũa này, tôi ăn chả giò, ăn phở, hủ tiếu, và bánh cuốn này.” Và thêm vào một ưu điểm để tránh chỗ sơ hở tôi nói thêm: “ Tôi còn ăn nước mắm thường xuyên nữa nè.”
Không trù tính trước, thế nên các em lại đứng im phắc và nhìn tôi chăm chăm. Tôi không thể nào không bật cười nổi trước vẻ ngây ngô của những em bé, trong lúc những người anh người chị và bạn bè của họ có vẻ hơi thoáng nghi ngờ. Tôi sẵn sàng vui vẻ trả 300 đô la cho hình ảnh những khuôn mặt của các em lúc đó, và thêm 300 đô la cho hình ảnh những nụ cười của các bà mẹ, bà nội bà ngoại cuả các em lúc đó, họ đều thích thú với cuộc chọc ghẹo này. Những em lớn bắt đầu công kích: “Không, ông không phải là người Việt. Ông là người Mỹ. Đúng rồi. Ông có tóc vàng nè.” Thế là cả đám lại xôn xao, để chíêm trước cho câu hỏi trên tôi nói: “ Tôi nhuộm tóc vàng để nhìn giống người Mỹ đó mà, rồi tôi giải phẫu cho sóng mũi cao, cho mắt to để nhìn giống người Mỹ. Thật mà, thật đấy, tôi đâu có nói dối mà làm gi?” Nhưng không thành công, bây giờ bằng chứng cho thấy họ đã biết đây là một cuộc chọc ghẹo cho vui, thế là tất cả đều oà lên cười tỏ vẻ đồng ý với nhau. Tôi vẫn không nhượng bộ và vẫn nhấn mạnh trong lúc vưà cười vưà nói tôi là người Việt Nam. Những tiếng nói cất lên cùng một lúc như tiếng của một đàn chim đang hót. “Ông không phải là người Việt! Ông là người Mỹ! Đúng rồi, ông là người Mỹ mà.” Từ những tiếng chối từ càng thêm những tiếng cười. Tôi cũng cười theo và vẫn làm bộ tự phụ tuyên bố mình là người Việt Nam chính gốc. Tôi, Chúng tôi đã có một niềm vui vô giá.
Cuộc thanh tra đồng luá đã hoàn thành, chúng tôi tạm ngưng để tham khảo kết quả, sau khi kết thúc, chúng tôi chuẩn bị rời khỏi thôn làng. Đám trẻ em lại tụ tập quanh chúng tôi và bắt đầu trở lại cuộc vui. Mặc dù sau cùng tôi cũng xác nhận lại giòng giống của mình để kết thúc cuộc chơi. Lúc từ giã các em tôi buồn bã căn dặn các em phải cố gắng học hành, và luôn luôn vâng lời cha mẹ, phải luôn ngoan ngoãn, và Không Bao Giờ nên nhuộm tóc vàng vì các em đã có một nét  thật đẹp thật thuần tuý. Có vài em vẫn còn muốn đuà thêm và quả quyết nói tôi chính là người Mỹ. Đơàn người chúng tôi lên đường, tôi quay lại vẫy nhìn, các em cũng vẫy lại với ánh nhìn trìu mến, những cánh tay các em như những ngọn lúa đong đưa trong gió.
Tôi vẫn luôn thắc mắc, không biết câu chuyện “Người Việt Nam tóc vàng” sẽ tồn tại bao lâu trong lòng các em bé đó…hay những bậc phụ huynh của các em. Một ngày nào, nếu tôi tìm lại được nơi chốn đó, tôi sẽ trở lại để được biết có còn ai nhớ lại cái ngày ấy, để cùng tôi tìm lại niềm vui xưa.

Bill Laurie

(Nàng dâu NT6 Ngọc Trân dich)

 

Blue World Blue World
Blue World Blue World
 
Blue World Home
© 2008, Khóa 6 Đại Học CTCT Đà Lạt
Blue World